Pháp luật đất đai và các quy định liên quan đến đầu tư kinh doanh
Về bảo đảm thực hiện dự án đầu tư,
Khoản 3 Điều 58 Luật đất đai quy định ký quỹ là biện pháp duy nhất để
bảo đảm thực hiện dự án đối với trường hợp nhà đầu tư được Nhà nước giao
đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự
án đầu tư. Quy định như vậy đã hạn chế các hình thức bảo đảm thực hiện
dự án khác như bảo lãnh, đặt cọc,.. Do vậy, Bộ đề xuất rà soát để sửa
đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 58 của Luật đất đai theo hướng mở rộng các
hình thức bảo đảm để thực hiện dự án.
Về việc sử dụng đất đối với trường hợp dự án bị chấm dứt hoạt động
theo quy định của pháp luật về đầu tư, quy định tại Điều 48 của Luật
đầu tư và Điều 64 của Luật đất đai chưa thống nhất về thời gian gia hạn
sử dụng đất khi dự án bị chấm dứt hoạt động; đồng thời cũng chưa quy
định rõ mối quan hệ giữa chấm dứt thực hiện dự án đầu tư và thu hồi
quyền sử dụng đất. Đối với vướng mắc này, Bộ đề nghị rà soát để sửa đổi,
bổ sung nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa quy định của Luật đầu tư và
Luật đất đai (Cụ thể: Khi dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy
định thì chủ đầu tư có thêm một khoảng thời gian để xử lý quyền sử dụng
đất, tài sản gắn liền với đất, sau đó nếu không tự xử lý được thì Nhà
nước mới thực hiện việc thu hồi đất).
Về đấu giả quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án có sử dụng đất,
quy định của Luật đất đai, Luật đấu thầu và Luật đầu tư chưa tương
thích với nhau, cụ thể: Luật đất đai chỉ quy định các trường hợp phải áp
dụng hoặc không áp dụng đấu giá quyền sử dụng đất; Luật đấu thầu chỉ
quy định các trường hợp phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; Luật đầu tư
chỉ quy định các trường hợp quyết định chủ trương đầu tư. Do đó, khi xem
xét một trường hợp cụ thể, các địa phương còn lúng túng và khó khăn
trong việc áp dụng pháp luật để lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án
(thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, thông qua đấu thầu quyền sử dụng
đất hay chỉ định chủ đầu tư). Về nội dung này, Bộ đề nghị rà soát sửa
đổi Luật đất đai, Luật đấu thầu và Luật đầu tư để đảm bảo sự tương thích
và thống nhất với nhau theo hướng: (i) Đối với dự án có sử dụng đất mà
sử dụng 100% nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, thì tiêu chí chất lượng và
kỹ thuật của dự án đặt lên hàng đầu trong khi đất là của Nhà nước thì
áp dụng hình thức đấu thầu dự án có sử dụng đất. (ii) Đối với các dự án
có sử dụng đất mà có nguồn vốn tư nhân thì tiêu chí thu tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất phải được đặt lên hàng đầu; các tiêu chí về chất
lượng, kỹ thuật nên để chủ đầu tư tự quyết định theo quy định của pháp
luật cho phù hợp với mục tiêu của dự án và số vốn họ bỏ ra. Đối với
trường hợp này áp dụng hình thức đấu giá quyền sử dụng đất nhằm tăng thu
cho ngân sách nhà nước. (iii) Các trường hợp nhà đầu tư đang sử dụng
đất hoặc nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được Thủ tướng Chính phủ chấp
thuận giao đất, cho thuê đất không theo hình thức đấu giá quyền sử dung
đất thì được chỉ định chủ đầu tư.
Về việc mở rộng quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
theo quy định tại Khoản 1 Điều 169 Luật đất đai, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tiếp cận đất đai thông qua việc Nhà nước giao đất, cho
thuê đất; thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao, khu kinh tế; nhận chuyển nhượng vốn từ tổ chức kinh
tế, trong đó giá trị quyền sử dụng đất đã được vốn hóa, trừ giá trị
quyền sử dụng đất nông nghiệp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất sửa đổi
Luật đất đai theo hướng mở rộng cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân. Về vấn đề này đã được Ban Cán sự Đảng Chính phủ trình Ban Chấp
hành Trung ương Khóa 11 tại Hội nghị thứ 5 và thứ 6. Trong chương trình
hành động thực hiện Nghị quyết đại hội lần thứ 12, Bộ TN&MT đã kiến
nghị thực hiện Đề án thí điểm cho nhà đầu tư nước ngoài nhận góp vốn,
nhận thuê quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư.
Về quyền cho thuê tài
sản gắn liền với đất thuê trả tiền hàng năm, Luật đất đai chưa có quy
định cụ thể về quyền cho thuê tài sản gắn liền với đất thuê trả tiền
hàng năm. Do vậy, cần thiết phải bổ sung để đảm bảo sự đồng bộ với Bộ
Luật Dân sự, Luật kinh doanh bất động sản.
Pháp luật khoáng sản và các quy định liên quan tới đầu tư, kinh doanh
Qua rà soát Luật
khoáng sản năm 2010 và đối chiếu với quy định của pháp luật về đầu tư,
kinh doanh có một số điểm mới so với Luật khoáng sản năm 2010.
Luật doanh nghiệp năm
2014 quy định Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (thay cho Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh); Giấy chứng nhận không ghi ngành, nghề kinh
doanh của doanh nghiệp (Điều 29); ngành, nghề kinh doanh của doanh
nghiệp được thể hiện trong nội dung Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp
(trước khi được cấp Giấy chứng nhận) và sau khi được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải công bố nội dung đăng ký
doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (Điều
33). Nội dung này được rà soát, điều chỉnh trong quy định vê trình tự,
thủ tục thẩm định hồ sơ cấp phép hoạt động khoáng sản cho doanh nghiệp
quy định trong dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 15/2012/NĐ-CP
ngày 09/3/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một sô điều của
Luật khoáng sản. Dự kiến Chính phủ sẽ ban hành Nghị định này trong tháng
7 năm 2016.
Luật đầu tư năm 2014,
cho thấy cần phải rà soát, chỉnh sửa các điều, khoản của Luật khoáng
sản năm 2010 cho phù hợp như: Điểm d Khoản 1 và Điểm đ Khoản 4 Điều 59;
Điểm c Khoản 1 Điều 70 không nhất thiết phải chỉnh sửa ngay vì Luật đầu
tư năm 2014 cũng đã quy định về áp dụng Luật đầu tư và các luật có liên
quan. Theo đó, tại Khoản 2 Điều 4 Luật này quy định “Trường hợp có quy
định khác nhau giữa Luật này và Luật khác về ngành, nghề cấm đầu tư kinh
doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điểu kiện, trình tự, thủ tục
đầu tư thì thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trình tự, thủ tục
đầu tư kinh doanh theo quy định tại Luật chứng khoán, Luật các tổ chức
tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật dầu khí”. Mặt khác, nguyên
tắc áp dụng pháp luật thì các quy định mới liên quan đến Luật đầu tư năm
2014 thì phải thực hiện theo quy định mới của Luật đầu tư.